Có bao giờ bạn tò mò bên trong cơ thể con người của mình bao gồm những gì không?Việc hiểu rõ cấu trúc cơ thể có thể giúp bạn thêm yêu thương và giúp nó trẻ mãi không già đó.

Tổng quát về cơ thể con người

tổng quát cơ thể người

Cơ thể của bạn được tạo thành từ hàng nghìn tỷ sinh vật sống được gọi là tế bào. Chúng kết hợp với nhau để tạo thành các mô, bao gồm cả cơ và dây thần kinh. Các nhóm mô hoạt động cùng nhau tạo nên các cơ quan, chẳng hạn như não và tim của bạn.

Thanh quản

Thanh quản

Khi không khí từ hơi thở của bạn vượt qua thanh quản (hoặc hộp thoại), các dây bên trong nó sẽ lung lay. Quá trình này tạo ra âm thanh cho phép bạn có thể nói chuyện. 

Vậy nên khi bạn ngậm miệng vào, bạn có nói gì cũng không có ai nghe hiểu được là bởi vì không khí không vượt qua được thanh quản của bạn đấy.

Khi bạn hít thở sâu

Hít thở

Khi bạn hít vào, phổi của bạn sẽ lấy oxy từ không khí. Khi bạn thở ra, chúng sẽ loại bỏ khí thải mà bạn không cần, cụ thể là khí CO2.

Trung tâm điều khiển

Não bộ của con người

Não bộ của bạn cần vận động và suy nghĩ. Không có nó, các cơ quan còn lại của cơ thể bạn không thể làm gì cả.

Truyền máu

Cách trái tim hoạt động

Trái tim của bạn là một máy bơm đưa máu đi khắp cơ thể theo một hướng. Nó đập cả ngày lẫn đêm không ngừng nghỉ. Và, nó còn dùng để yêu thương nữa.

Người thu mua thực phẩm/Nhà thu thập thức ăn

Dạ dày

Dạ dày của bạn là một cái túi làm bằng cơ. Lớp niêm mạc dạ dày tạo ra các hóa chất phân hủy thức ăn của bạn, do đó cơ thể bạn nhận được chất dinh dưỡng cần thiết.

Máy xử lý thức ăn

Gan

Gan của bạn giống như một nhà máy nhỏ: Nó lấy thực phẩm bạn ăn, tách phần tốt khỏi phần xấu, sau đó gửi chúng đến các bộ phận thích hợp của cơ thể bạn.

Xử lý chất thải

Bàng quang

Bàng quang lưu trữ nước tiểu, chứa chất thải mà cơ thể cần tống khứ ra ngoài. Nó lớn dần lên khi được làm đầy, sau đó sẽ trống rỗng… khi bạn đi vệ sinh.

Ống cuộn

Ruột non

Ruột non của bạn nhận phần tinh chất của thức ăn và truyền vào máu của bạn để nó có thể đi khắp cơ thể của bạn.

Nhìn vào tế bào

tế bào cơ thể người

Các tế bào có kích thước siêu nhỏ, nhưng nếu không có chúng thì bạn thậm chí sẽ không tồn tại. Có nhiều loại tế bào khác nhau tạo nên các bộ phận của cơ thể bạn, chẳng hạn như máu, xương, cơ và chất béo.

Có thể bạn chưa biết: Một tế bào mỡ có kích thước gấp 250 lần nó và có màu tím.

Đố nhanh?

Bộ phận nào của cơ thể tạo ra âm thanh?

Trái tim của bạn được sử dụng để làm gì?

Nước tiểu của bạn được lưu trữ ở đâu trong cơ thể?

Giới thiệu chi tiết về cơ thể con người

Cơ thể người

Tất nhiên, con người là động vật. Cụ thể hơn, con người là thành viên của lớp Linh trưởng trong bộ Động vật có xương sống. Hay nói cách khác là thành viên của bộ động vật có vú phát triển cao nhất (gồm có người, khỉ không đuôi, khỉ đuôi dài và vượn). 

Giống như tất cả các động vật có xương sống khác, động vật con người có cơ thể đối xứng hai bên, được đặc trưng tại một số điểm trong quá trình phát triển bởi nguyên sống, khe mang ở vùng họng và một dây thần kinh lưng rỗng. Trong số những đặc điểm này, hai đặc điểm đầu tiên chỉ xuất hiện trong giai đoạn phôi thai ở người. Nguyên sống được thay thế bằng cột sống và các khe mang họng bị biến mất mất hoàn toàn khi chúng ta lớn lên. Dây thần kinh lưng là tủy sống ở người, nó vẫn tồn tại trong suốt cuộc đời mỗi chúng ta.

Đặc trưng của động vật có xương sống.

Bộ xương của cơ thể con người

Cơ thể con người có một bộ xương bên trong cơ thể bao gồm phần xương sống là các đốt sống. Điển hình về cấu tạo của động vật có vú như con người là cơ thể có các đặc điểm như lông, tuyến vú và các cơ quan giác quan rất phát triển.

Tuy nhiên, ngoài những điểm tương đồng này với các động vật có vú thì con người cũng có một số điểm khác biệt hoàn toàn khác. Trong số các loài động vật có vú, chỉ có con người có tư thế chủ yếu là hai chân (động vật đi bằng hai chân), đây là một thực tế đã làm thay đổi rất nhiều cách bố trí cơ thể nói chung của động vật có vú. Ngay cả loài kangaroo, nhảy cẫng bằng hai chân khi di chuyển nhanh, cũng đi bằng bốn chân và sử dụng đuôi như một “chân thứ ba” khi đứng thăng bằng. Hơn nữa, bộ não của con người, đặc biệt là tân vỏ não, là bộ não phát triển cao và tiến hóa nhất trong vương quốc động vật. Thông minh như nhiều loài động vật có vú khác chẳng hạn như tinh tinh và cá heo,  không có loài nào đạt được trạng thái trí tuệ như loài người.

Thành phần hóa học của cơ thể

Về mặt hóa học, cơ thể con người chủ yếu bao gồm nước và các hợp chất hữu cơ, tức là lipid, protein, carbohydrate và axit nucleic. Nước được tìm thấy trong các chất lỏng ngoại bào của cơ thể (huyết tương, bạch huyết và dịch kẽ) và trong chính các tế bào. Nó đóng vai trò như một dung môi mà nếu thiếu nó, quá trình hóa học của sự sống sẽ không thể diễn ra. Cơ thể con người chiếm khoảng 60% trọng lượng là nước.

Lipid

Lipid

Lipid là gì? Lipid bao gồm chủ yếu là các chất béo, lipid phốt pho (lipid thuộc nhóm phân cực (1 đầu tan trong nước, 1 đầu tan trong dầu) và steroid (những chất hóa học tự nhiên (hoocmôn hoặc vitamin) do cơ thể tự tạo ra) là các thành phần cấu trúc chính của cơ thể con người. Khoa học chia Lipid làm hai loại. Nếu lipid có nguồn gốc từ động vật thì gọi là mỡ, mà lipid có nguồn gốc thực vật gọi là dầu.

Chất béo cung cấp nguồn dự trữ năng lượng cho cơ thể, đồng thời miếng đệm mỡ còn có tác dụng cách nhiệt và giảm… xóc. Nghe như là giảm xóc yên xe máy phải không? Thực tế thì hiệu quả của nó chính là điều hòa thân nhiệt cho cơ thể và bảo vệ các bộ phận bên trong cơ thể.

Nếu bạn đã từng béo rồi gầy, hay đã từng gầy mà ngồi cạnh mấy bạn có tí “mũm mĩm”, bạn tinh ý sẽ phát hiện ra, với cùng một điều kiện thời tiết bình thường, người “mũm mĩm” sẽ luôn cảm thấy nóng hơn người gầy một chút. Người gầy thì luôn cảm thấy lạnh hơn. Hay cùng là mùa đông lạnh giá của Hà Nội, mà mấy bà mập mập hay mặc áo phông cộc tay đi khắp phố phường mà không sao, còn bạn ít mỡ sẽ cảm thấy lạnh tím người chẳng hạn. Những lúc đó hãy nhớ đến tác dụng của chất béo chúng mình đang chia sẻ ở đây nhé. Có đủ mỡ cơ thể sẽ không bị mất nhiệt dưới da, vì miếng đệm mỡ sẽ bảo vệ cơ thể để nhiệt bên ngoài không thể truyền dẫn vào bên trong cơ thể.

Tác dụng giảm xóc sẽ thể hiện rõ ở việc lipid bao quanh phủ tạng giống như một tổ chức bảo vệ, để ngăn ngừa các va chạm và giúp chúng ở vị trí đúng chỉ định dành cho chúng, bảo vệ cơ thể tránh khỏi các tác động bất lợi của môi trường thời tiết.

Ngoài ra, phospholipid, cholesterol và hợp chất steroid là những thành phần chính của màng bao quanh mỗi tế bào.

Protein

Protein

Protein là gì? Protein là chất đạm. Tất nhiên là không giống đạm bón cây nhé. Nhỡ bác sĩ bảo thiếu đạm mà mua cân đạm ở chợ về bón cho mình thì đi tong. 

Protein của cơ thể người là những phân tử sinh học hay đại phân tử, chứa một hoặc nhiều mạch các chuỗi acid amin, liên kết với nhau bởi liên kết peptid. Nó cũng đóng vai trò như một thành phần cấu trúc chính của cơ thể. Giống như lipid, protein là thành phần quan trọng cấu tạo nên màng tế bào. Ngoài ra, các vật liệu ngoại bào như tóc và móng tay đều được cấu tạo từ protein. Kể cả collagen cũng cấu tạo từ protein, chất liệu dạng sợi, đàn hồi tạo nên phần lớn các bộ phận của cơ thể như da, xương, gân và dây chằng của cơ thể. 

Bởi vậy, nếu bạn muốn có một làn da đẹp và đàn hồi, điều quan trọng nhất là bạn không thể ăn uống thiếu đạm được. Cần phải ăn đủ chất để đảm bảo cơ thể có thể vận hành được các chức năng vốn có của nó và duy trì vẻ đẹp của bạn. Chứ không thể ăn kiêng không khoa học, nó sẽ chỉ dẫn đến bạn gầy đi và da trở nên ngày càng nhăn nheo và mất khả năng đàn hồi mà thôi.

Protein cũng thực hiện nhiều vai trò chức năng trong cơ thể. Thành phần đặc biệt quan trọng là các protein tế bào được gọi là enzym. Enzym là chất xúc tác cho các phản ứng hóa học cần thiết cho sự sống. Nếu bạn đã từng nghe thấy cụm từ “men tiêu hoá”, thì đây chính là cụm từ người ta đang chỉ enzym. Khi cơ thể bị rối loạn chức năng, chẳng hạn như tiêu hóa, enzym được thêm vào sẽ làm cơ thể hoạt động trơn tru hơn, tất nhiên cần thêm enzym như thế nào, phải do bác sĩ chỉ định.

Carbohydrate

Carbohydrate

Carbohydrate là gì? Carbohydrate hiện diện trong cơ thể con người phần lớn dưới dạng nhiên liệu, tạo ra và cung cấp năng lượng cho cơ thể. Dưới dạng đường đơn lưu thông trong máu hoặc là dưới dạng glycogen, một hợp chất dự trữ được tìm thấy trong gan và cơ. Một lượng nhỏ carbohydrate cũng có trong màng tế bào, nhưng trái ngược với thực vật và nhiều động vật không xương sống, con người có rất ít carbohydrate cấu trúc trong cơ thể. 

Bạn đã từng nghe về hiện tượng tụt đường huyết chưa? Đó chính là do cơ thể thiếu carbohydrate. Lúc này phương pháp xử lý là sẽ truyền đường hoặc người ta hay cho bệnh nhân ăn cái gì đó, lý do là bởi vì con người cần calo để dự trữ và sử dụng tạo ra năng lượng cho cơ thể đủ hoạt động, khi nó thiếu con người trở nên uể oải và bị tắt nguồn như những trường hợp bạn nhìn thấy với những người bị hạ đường huyết.

Axit nucleic

Axit nucleic

Axit nucleic là gì? Axit nucleic tạo nên vật liệu di truyền của cơ thể. Là đại phân tử lưu trữ thông tin di truyền và sản xuất protein. Axit deoxyribonucleic (DNA) mang mã chính di truyền của cơ thể, các hướng dẫn mà mỗi tế bào hoạt động theo đó. Chính DNA, được truyền từ cha mẹ sang con cái, quy định các đặc điểm di truyền của mỗi cá nhân con người. Axit Ribonucleic (RNA), trong đó có một số loại, giúp thực hiện các hướng dẫn được mã hóa trong DNA.

Cùng với nước và các hợp chất hữu cơ như đã kể ở trên, các thành phần cấu tạo của cơ thể còn bao gồm các khoáng chất vô cơ khác nhau. Đứng đầu trong số này là canxi, phốt pho, natri, magiê và sắt. Canxi và phốt pho, được kết hợp dưới dạng tinh thể canxi-phốt phát, tạo thành một phần lớn xương của cơ thể. Canxi cũng hiện diện dưới dạng các ion trong máu và dịch kẽ (dịch nằm trong các khoảng trống giữa các tế bào) như natri. Mặt khác, các ion phốt pho, kali và magiê lại có nhiều trong chất lỏng gian bào. Tất cả các ion này đều đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất của cơ thể. Sắt hiện diện chủ yếu như một phần của hemoglobin huyết sắc tố, nằm trong tế bào hồng cầu có nhiệm vụ vận chuyển oxy từ phổi đến khắp các tế bào của cơ thể. Các thành phần khoáng chất khác của cơ thể, được tìm thấy ở nồng độ nhỏ nhưng vẫn là các chất cần thiết, bao gồm coban, đồng, iốt, mangan và kẽm.

Vậy, kết luận lại: thành phần hóa học của cơ thể bao gồm: nước, hợp chất hữu cơ và hợp chất vô cơ. 

Tổ chức của cơ thể

Tổ chức của cơ thể

Có năm cấp của tổ chức cơ thể của một sinh vật đa bào. Đơn vị cơ bản nhất là tế bào. Các nhóm tế bào hình thành nên các mô, nhóm các mô khác nhau tạo nên các cơ quan. Các nhóm cơ quan hình thành hệ thống cơ quan. Các tế bào, mô, cơ quan, và các hệ thống cơ quan kết hợp để tạo thành một sinh vật đa bào. Và đó là chúng ta.

Tế bào

tế bào

Tế bào là gì? Tế bào là đơn vị sống cơ bản của cơ thể con người. Sự thật nó còn là cấu trúc của tất cả các sinh vật. Cơ thể con người bao gồm hàng nghìn tỷ tế bào, mỗi tế bào có khả năng phát triển, trao đổi chất, phản ứng với các kích thích và, với một số ngoại lệ, có khả năng sinh sản nữa. Mặc dù có khoảng 200 loại tế bào khác nhau trong cơ thể, chúng có thể được nhóm lại thành bốn loại cơ bản. Bốn loại tế bào cơ bản này, cùng với các vật liệu ngoại bào của chúng, tạo thành các mô cơ bản của cơ thể người.

Mô 

Cơ thể người có 4 loại mô

Có 4 loại mô: 

Thứ nhất là: Các mô biểu mô. Chúng bao phủ bề mặt cơ thể và nằm lót trong các khoang trống của các cơ quan nội tạng, khoang cơ thể và lối đi. Nhìn chung, các tế bào biểu mô đóng vai trò như một hàng rào ngăn giữa bên ngoài và bên trong cơ thể bạn, đồng thời giúp bảo vệ cơ thể khỏi sự xâm hại của vi rút. 

Thứ hai là các mô cơ. Mô cơ có khả năng co lại và tạo thành cơ của cơ thể, giúp bạn đi lại, vận động ở các tư thế.

Thứ 3 là các mô thần kinh, dẫn các xung điện và tạo nên hệ thần kinh.

Cuối cùng là các mô liên kết. Chúng bao gồm các tế bào có khoảng cách rộng rãi và một lượng lớn chất nền gian bào hay còn được gọi với cái tên “ma trận ngoại bào”. Các mô liên kết kết nối và hỗ trợ các cơ quan và mô khác bằng cách lấp đầy không gian giữa chúng. Xương và máu được coi là các mô liên kết chuyên biệt, trong đó chất nền gian bào tương ứng ở hai trạng thái cứng và lỏng.

Cấp độ tiếp theo của tổ chức trong cơ thể là cấp của cơ quan. 

Cơ quan

Là một nhóm các mô tạo thành một đơn vị cấu trúc và chức năng riêng biệt. Như vậy, tim là cơ quan được cấu tạo bởi cả 4 mô, có chức năng bơm máu đi khắp cơ thể. Tất nhiên, tim không hoạt động một cách riêng biệt. Nó là một phần của hệ thống bao gồm máu và mạch máu. Do đó, cấp độ cao nhất của tổ chức cơ thể là của hệ thống cơ quan.

Hệ thống cơ quan

Hệ thống cơ quan

Cơ thể bao gồm chín hệ thống cơ quan chính, mỗi hệ thống bao gồm các cơ quan và mô khác nhau hoạt động cùng nhau như một đơn vị chức năng. Các thành phần chính và chức năng chính của mỗi hệ thống được tóm tắt dưới đây. 

Thứ nhất: Hệ thống liên kết/hệ bì/hệ vỏ bọc: Bao gồm da và các cấu trúc liên quan, bảo vệ cơ thể khỏi sự xâm nhập của các vi sinh vật và hóa chất có hại. Nó cũng ngăn ngừa sự mất nước khỏi cơ thể. 

Thứ hai là: Hệ cơ xương (còn được gọi riêng là hệ cơ và hệ xương), bao gồm cơ xương và xương (với khoảng 206 xương ở người lớn), có chức năng di chuyển cơ thể và bảo vệ các cơ quan nội tạng. 

Thứ ba là: Hệ thống hô hấp, bao gồm đường thở, phổi và cơ quan hô hấp. Hệ thống hô hấp nhận oxy cần thiết từ không khí cho quá trình trao đổi chất của tế bào. Nó cũng trả lại cho không khí carbon dioxide được tạo thành như một sản phẩm chất thải của quá trình trao đổi chất. 

Thứ 4 là: Hệ thống tuần hoàn, bao gồm tim, máu và mạch máu, chịu trách nhiệm lưu thông chất lỏng, vận chuyển chúng khắp cơ thể, cung cấp cho các tế bào nguồn cung cấp oxy và chất dinh dưỡng ổn định và mang đi các chất thải như carbon dioxide và các hợp chất nitơ độc hại. 

Thứ 5 là: Hệ thống tiêu hóa, bao gồm miệng, thực quản, dạ dày và ruột. Hê này chịu trách nhiệm phân hủy thức ăn thành các chất có thể sử dụng được (gọi là các chất dinh dưỡng), sau đó dinh dưỡng được hấp thụ vào máu hoặc bạch huyết. Hệ thống này cũng loại bỏ phần thức ăn thừa hoặc không sử dụng được dưới dạng phân. 

Thứ 6 là: Hệ bài tiết, bao gồm thận, niệu quản (ống dẫn nước đái từ thận đến bàng quang), bàng quang và niệu đạo (ống dẫn nước tiểu từ bàng quang ra khỏi cơ thể), chịu trách nhiệm loại bỏ các hợp chất nitơ độc hại và các chất thải khác ra khỏi máu. 

Thứ 7 là:  Hệ thống thần kinh, bao gồm các cơ quan cảm giác, não, tủy sống và dây thần kinh. Nó chịu trách nhiệm truyền, tích hợp và phân tích thông tin cảm giác và mang các xung động để thực hiện các phản ứng cơ hoặc tuyến thích hợp. 

Thứ 8 là: Hệ thống nội tiết, bao gồm các tuyến và mô tiết hormone. Nó chịu trách nhiệm cung cấp một mạng lưới liên lạc hóa học để điều phối các quá trình khác nhau của cơ thể. 

Cuối cùng là: Hệ thống sinh sản, bao gồm các cơ quan sinh dục nam hoặc nữ, cho phép sinh sản và do đó đảm bảo sự tiếp tục của giống loài.

Hình thức cơ bản và sự phát triển

Về cấu trúc chung, cơ thể con người tuân theo một bản đồ có thể được mô tả như một hình trụ bao quanh hai ống và một cột. Bản đồ cơ thể này được thể hiện rõ ràng nhất trong phôi thai. Khi sinh ra, bản đồ chỉ rõ ràng ở vùng thân, tức là ở ngực và bụng, chứ cấu trúc trụ, ống, cột này không còn rõ ràng nữa.

Thành cơ thể tạo thành hình trụ. Hai ống là ống tiêu hóa nằm ở bụng và ống thần kinh nằm ở lưng (tức là tủy sống). Giữa các ống là một cái cột, hay còn gọi là nguyên sống trong phôi thai, nó biến thành cột đốt sống trước khi sinh. 

Trong phôi thai, các bộ phận cơ thể bao gồm: 

  1. Màng biểu bì bao bọc bên ngoài (trong phôi được gọi là ngoại bì)
  2. Ống thần kinh lưng, 
  3. Nguyên sống hỗ trợ
  4. Ông trung bì bụng trở thành lớp niêm mạc của dạ dày và ruột (trong phôi được gọi là nội bì)
  5. Khối lượng trung gian (trong phôi được gọi là trung bì)
  6. Và một mô khá lỏng lấp đầy các khoảng trống, có nguồn gốc từ trung bì và trong phôi được gọi là trung mô. 

Mọi thứ trong cơ thể đều bắt nguồn từ một trong sáu bộ phận kể trên ở giai đoạn phôi thai.

Trung bì tạo thành một lớp mô lớn ở mỗi bên của phôi thai, kéo dài từ phía sau ra phía trước của thành cơ thể. Nó là rỗng, vì một không gian giống như khe hở xuất hiện bên trong ở mỗi bên. Đây là các khoang bên phải và bên trái của cơ thể. Ở phần lưng của cơ thể, chúng là tạm thời. Ở phần bụng chúng trở thành vĩnh viễn, tạo thành hai khoang màng phổi, nơi chứa phổi. 

Khoang phúc mạc chứa các cơ quan trong ổ bụng và khoang màng ngoài tim, bao quanh tim. 

Phần lưng của trung bì trở nên tách biệt khỏi trung bì bụng và tự phân chia thành các phần nối tiếp như một dãy khối, mỗi bên 31 khối. Các đoạn trung bì này phát triển theo mọi hướng về phía màng biểu bì. Chúng tạo thành xương, cơ và phần sâu hơn của da. Ở mặt lưng, chúng tạo thành các vòm xương bảo vệ tủy sống, và ở mặt bụng là các xương sườn bảo vệ ống tủy sống và tim. Do đó, chúng tạo nên thành cơ thể và các chi, chịu sức nặng của của cơ thể. Sau các bước như vậy, tủy sống trở nên phân đoạn tương ứng. Trung bì bụng không quá rộng, nó vẫn ở gần ống tiêu hóa và trở thành lớp cơ liên tục của dạ dày và ruột. Nó cũng tạo thành lớp niêm mạc của các khoang cơ thể, màng phổi và phúc mạc/màng bụng nhẵn, sáng, trơn. Trung mô tạo thành mạch máu và bạch huyết, tim, và các tế bào lỏng lẻo của các mô liên kết (hay còn được gọi là mô cực).

Bản thân ống thần kinh được hình thành từ ngoại bì ở giai đoạn rất sớm. Về phía trước (tức là về phía đầu), nó kéo dài phía trên đầu hở của hình trụ và được mở rộng để tạo thành não. Nó không tiếp xúc ngay với biểu bì, vì trung bì lưng mọc lên xung quanh nó và xung quanh rễ của các dây thần kinh sọ như một lớp bọc, ngăn cách não với biểu bì. Phía sau ống thần kinh sẽ đối diện với đốt sống thắt lưng đầu tiên khi trưởng thành.

Nếu thành của cơ thể hình trụ hướng về phía trước, nó được tìm thấy kết thúc ở phần bụng như lưỡi, mặt lưng trong hộp sọ xung quanh não, tai và mắt. Có một khoảng cách đáng kể giữa mắt và lưỡi. Nó chiếm một phần bởi một chỗ lõm sâu của lớp biểu bì giữa chúng, chúng lõm vào để tham gia vào ống tiêu hóa (niêm mạc miệng). Thành sau của cơ thể bụng nối với lưng ở xương cụt.

Hướng về phía trước, ống tiêu hóa kéo dài lên phía trước của nguyên sống và nhô lên phần trên của thành cơ thể (lưỡi) và phía trước và bên dưới não để tham gia vào chỗ lõm biểu bì. Từ chỗ lõm biểu bì được hình thành các răng và niêm mạc miệng. Từ đầu trên của ống tiêu hóa, họng, thanh quản, khí quản và phổi được hình thành. Ở phần đuôi của ống tiêu hóa chia dọc thành hai ống ống trước và ống sau. Ống trước trở thành bàng quang, niệu đạo, và ở nữ giới là niêm mạc âm đạo, nơi nó tham gia vào chỗ lõm của ngoại bì. Ống sau trở thành trực tràng và kết thúc ngay phía trước xương cụt bằng cách nối một chỗ lõm ngoài biểu bì (hậu môn).

Ảnh hưởng của lão hóa tới cơ thể con người

Khi cơ thể con người già đi, con người sẽ trải qua những thay đổi khác nhau, trải qua những thời điểm khác nhau và với tỷ lệ khác nhau giữa các cá nhân.

Hầu hết mọi người bắt đầu cảm thấy ảnh hưởng của lão hóa sau khi họ đã trưởng thành.

Các dấu hiệu của sự lão hóa thể hiện ở:

Làn da

Da là một trong những dấu hiệu lão hóa chính xác nhất. Nó trở nên mỏng, khô và mất tính đàn hồi. 

Các mảng sắc tố sẫm màu hơn xuất hiện, thường được gọi là đốm gan, mặc dù chúng không liên quan đến cơ quan đó. Tóc bạc và mỏng hơn. 

Vết thương mất nhiều thời gian hơn để chữa lành. Thời gian phục hồi kéo dài gấp 5 lần ở tuổi 60 so với lúc 10 tuổi. Các sợi cảm giác trong các dây thần kinh cột sống trở nên ít hơn và các tế bào hạch trở nên mất sắc tố, thậm chí một số trong số chúng bị chết.

Thính giác

Lão hóa thính giác

Trong cơ quan thính giác, một số tế bào và sợi thần kinh bị mất đi, và khả năng nghe các nốt cao giảm dần. 

Thị giác

lão hóa thị giác

Trong mắt thủy tinh thể mất tính đàn hồi.

Cơ quan nội tạng và não

Các cơ quan như gan và thận bị mất khối lượng theo tuổi tác và suy giảm chức năng. 

Não có phần nhỏ hơn sau tuổi 40 và co lại rõ rệt sau 75 tuổi, đặc biệt là ở thùy trán và thùy chẩm. Tuy nhiên, sự co rút này không tương quan với sự suy giảm trí lực. Suy giảm trí tuệ ở người cao tuổi là hậu quả của các tình trạng bệnh nền, chẳng hạn như bệnh Alzheimer hoặc bệnh liên quan đến mạch máu não.

Xương

lão hóa xương

Xương trở nên nhẹ và giòn hơn do mất canxi. Sự mất khối lượng xương này ở phụ nữ nhiều hơn nam giới. Ở các khớp, sụn bao phủ các đầu xương trở nên mỏng hơn và đôi khi biến mất thành từng điểm, do đó xương chạm vào xương trực tiếp, các khớp kêu cót két. Sự chèn ép của cột sống có thể dẫn đến việc giảm chiều cao. Sức mạnh cơ bắp giảm nhưng với sự thay đổi rõ rệt ở từng cá nhân.

Động mạch

Các động mạch bị xơ và xơ cứng. Do độ đàn hồi giảm, chúng có xu hướng trở thành các ống cứng. 

Các thí nghiệm trong ống nghiệm chỉ ra rằng các tế bào của cơ thể được lập trình để trải qua một số lần phân chia hữu hạn, sau thời gian này, chúng sẽ mất khả năng sinh sản. Do đó, tuổi thọ tiềm năng của cơ thể con người, khoảng 100 năm, dường như được mã hóa trong chính các tế bào của cơ thể nếu chúng ta tôn trọng cấu trúc và không làm rối loạn các chức năng của nó.

Thay đổi liên quan đến các yếu tố môi trường

Mặc dù hình thức cơ bản của cơ thể người đã được thiết lập từ tổ tiên nhân loại, nhưng sự thích nghi tiến hóa với các môi trường khác nhau cũng là một đặc điểm rất rõ ràng giữa các quần thể người khác nhau. Ví dụ, sự thích nghi vật lý ở con người được thấy để đối phó với nhiệt độ cực lạnh, ẩm ướt và độ cao lớn.

Cái lạnh

Lớp mỡ cơ thể của những người ở vùng lạnh lớn hơn mức trung bình, chân tay cũng ngắn hơn bình thường. Những điều chỉnh này là bởi khi diện tích bề mặt tiếp xúc với lạnh ít hơn, cơ thể có thể bảo vệ chống lại tê cóng. Lớp mỡ trong mũi tăng lên để bảo vệ phổi và nền não chống lại không khí lạnh trong đường mũi.

Cái nóng

Ở những vùng khí hậu nóng, vấn đề không nằm ở việc duy trì thân nhiệt mà nằm ở việc tiêu tán nó. 

Thông thường, cơ thể tự thải nhiệt dư thừa bằng cách đổ mồ hôi. Tuy nhiên, trong điều kiện nhiệt độ ẩm, độ ẩm của không khí xung quanh ngăn cản sự bay hơi của mồ hôi ở một mức độ nào đó và có thể dẫn đến tình trạng quá nóng. Do đó, người thích nghi với nhiệt trong điều kiện khí hậu ẩm ướt có đặc điểm cao và gầy, vì diện tích bề mặt cơ thể tiếp xúc với không khí nhiều hơn dễ phân tán nhiệt hơn. Người sống ở vùng khí hậu nóng có ít mỡ trong cơ thể, thường là mũi rộng, làn da sẫm màu.

Độ cao

Độ cao đòi hỏi một mức độ cơ thể thích ứng với cái lạnh, cũng như thích ứng với áp suất không khí thấp và lượng oxy thấp. Sự thích ứng này được thực hiện nhờ sự gia tăng mô phổi nói chung.

Mặc dù thực tế là hình dạng, kích thước chung của cơ thể và các bộ phận của nó được xác định bởi tính di truyền, nhưng cơ thể có thể trải qua một số thay đổi để đáp ứng với các điều kiện sống hiện tại. Do đó, một người di chuyển từ nhà ở mực nước biển đến nhà ở độ cao trên núi sẽ bị tăng số lượng hồng cầu, sự gia tăng này giúp bù đắp cho lượng oxy thấp hơn của môi trường mới. Tương tự, một người da sáng khi di chuyển đến vùng nhiệt đới nóng sẽ bị tăng sắc tố trên da. Những điều chỉnh của cơ thể đảm bảo cho cơ thể thích ứng được với nhu cầu hiện tại đủ tốt để duy trì sự sống mà ít lãng phí năng lượng nhất.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *